Bạch chỉ kháng khuẩn giảm đau là vị thuốc quý được dùng từ
lâu đời. Bạch chỉ được sử dụng trong rất nhiều bài thuốc.
-Xuất
xứ : Bản Kinh.
-Tên
khác : Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lý trúc căn, Đỗ nhược, Hòe hoàn, Lan
hòe, Linh chỉ, Ly hiêu, Phương hương (Bản Kinh) , Thần hiêu ( Hòa Hán Dược
Khảo), Bạch cự (Biệt Lục), Phù ly, Trạch phần ( Ngô Phổ Bản Thảo), An bạch chỉ,
Hàng bạch chỉ, Vân nam ngưu phòng phong, Xuyên bạch chỉ (Trung Dược Đại Từ
Điển), Hưng an bạch chỉ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Hàng bạch chỉ,
Hương bạch chỉ, Xuyên bạch chỉ (Đông Dược Học Thiết Yếu),
-Tên khoa
học : Angelica Dahurica Benth. Et Hook. F.
-Họ khoa
học : Apiaceae.
-Mô
Tả : Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 1-1,5 m. Thân rỗng, đường kính
có thể đến 2-3cm. Mặt ngoài mầu tím hồng, phía dưới nhẵn, phía trên gần cụm hoa
có lông ngắn. Rễ phình thành củ dài, mọc thẳng, đôi khi phân nhánh. Lá tọt có
cuống dài, phát triển thành bẹ rộng, ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2-3 lần, hình
lông chim. Thùy hình trứng dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa. 2 mặt lá
không lông trừ đường gân ở mặt trên lá có lông tơ. Cụm hoa là 1 tán kép, mọc ở
đầu cành hoặc kẽ lá, có cuống chung dài 4-8cm, cuống tán dài 1cm. Hoa mầu
trắng, mẫu 5. Quả bế đôi dẹt, hình bầu dục hoặc hơi tròn, dài khoảng 6mm. Rễ,
thân, lá, có tinh dầu thơm. Mùa hoa quả : tháng
5-7.
Phân biệt:
Phân biệt với cây xuân Bạch Chỉ (Angelica anomala Lallem) cùng họ với cây trên,
đó là cây cao 2-3m. Lá 3 lần sẻ lông chim. Lá chét có cuống dài khoảng 3cm.
Những điểm khác đều giống loài ở trên.
Mô
Tả dược liệu: Rễ Bạch Chỉ (Angelica dahurica Benth et Hook.) hình
trụ, đầu trên hơi vuông mang vết tích của cổ rễ, đầu dưới nhỏ dần. Mặt ngoài
màu vàng hay nâu nhạt có nhiều lớp nhăn dọc nhiều lỗ vỏ lồi lên nằm ngang xếp
thành 4 hàng dọc. Bẻ ngang cứng, mặt bẻ không sơ. Mặt cắt ngang có lớp bần
mỏng, mô mềm vỏ màu trắng ngà, có nhiều bột, phía ngoài xốp hoặc có nhiều điểm
nhỏ màu nâu (ống tiết) tầng sinh gỗ hình vuông. Gỗ chiếm trên 1/2 đường bán
kính. Mùi thơm hơi hắc, vị hơi cay gọi là hàng Bạch Chỉ.
Rễ Bạch Chỉ
(Angelica anomala Lallem) cũng hình trụ mặt ngoài màu vàng nâu hay nhạt, có lỗ
vỏ lồi lên nằm ngang. Bẻ ngang cứng, mặt bẻ không sơ. Mặt ngang có lớp bần
mỏng, mô mềm màu vỏ trắng tro, có nhiều tính bột phía ngoài có nhiều điểm nhỏ
màu nâu (ống tiết), tầng sinh gỗ hình vòng tròn, gỗ chiếm trên 1/3 đường bán
kính. Mùi hơi hắc, vị hơi cay gọi là Xuyên Bạch Chỉ.
Thu hái, sơ chế: Lá úa vàng lúc mùa thu, đào rễ, bỏ thân và rễ con, rửa sạch đốt cho vào vại có vôi, đậy kín một tuần mới lấy ra phơi khô, có nơi phơi ngay nếu mưa thì sấy trong lò sau đó thì cạo bỏ vỏ mỏng ngoài Hoặc có nơi phơi hoặc sấy nhẹ đến khô, hoặc cho vào lò xông Lưu hoàng một ngày đêm cho thật chín mềm (cứ 100kg Bạch Chỉ tươi thì dùng 0,800kg Lưu hoàng) cho tới độ ẩm dưới 13% thì Bạch Chỉ mới trắng, những lần sấy sau Lưu hoàng ít hơn, cứ 100kg Bạch Chỉ thì cần Lưu hoàng đốt làm 2 lần.
-Bào
chế :
+ Hái
Bạch chỉ về, cạo sạch vỏ, thái nhỏ, lấy Hoàng tinh ( số lượng bằng nhau), cho
vào nồi, đồ 1 lúc, lấy Bạch chỉ ra, phơi khô, dùng. Hoặc hái về, rửa sạch, cắt
ra từng khúc, trộn với vôi, phơi khô. Khi dùng cho vào thuốc thì sao qua. có
thể sao cháy hoặc tẩm giấm, sao (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Rửa
qua cho sạch, ủ 3 giờ cho mềm. Thái nhỏ, phơi trong râm cho khô. Không sao tẩm
gì (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược – Việt Nam).
. Rễ củ thu
hái lúc trời khô ráo, trước lúc mưa to kéo dài. Đào rễ và cắt cho bằng đầu,
tránh làm sây sát vỏ và gẫy rễ. Không thu hái ở cây đã kết hạt. Loại bỏ rễ con,
rửa nhanh sau đó sấy Lưu huỳnh rồi phơi ở nhiệt độ 40-50oc(Tài
Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
-Thành Phần
Hóa Học :
+ Trong Bạch
chỉ chứa tinh dầu và các dẫn chất Curamin là :Byak-Angelicin, Byak Angelicol,
Oxypeucedanin, Imperatorin, Isoimperatorin, Phelloterin, Xanthotoxin, Anhydro
Byakangelicin (Iso Byakangelicol), Neobyak Angelicol. Ngoài ra còn có Marmezin
và Scopetin ( Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
-Tác dụng
dược lý :
+ Tác dụng
kháng khuẩn :
. Trong thí
nghiệm, Bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn đối với các loại Shigella và
Salmonella (Trung Dược Học).
. Bằng
phương pháp khuyếch tán trên môi trường nuôi cấy vi khuẩn, nước sắc và
cao chiết từ Bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn đối với các chủng phế cầu
(Diplococcus Pneumoniae), liên cầu ( Streptococus Hemoleticus), tụ cầu vàng
(Staphylococus Aureus), Bacillus Subtilis, Shigella Sonnei, Shigella Flexneri,
Shigella Shiga, Shigella Dysenteriae, Enterococus, Vibrio Cholerae và Bacillus
Typhi. Ngoài ra, Bạch chỉ còn có tác dụng kháng Virus (Tài Nguyên Cây Thuốc
Việt Nam).
+ Tác
dụng giảm đau : Trên mô hình gây quặn đau bằng cách tiêm xoang bụng dung dịch
Acid Acetic 6%o cho chuột nhắt trắng, Bạch chỉ với liều lượng 10g/kg, có tác
dụng giảm đau rõ rệt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
+ Giảm
đau : Làm giảm đau đầu do cảm cúm, đau đầu sau đẻ, đau lợi răng, đau thần kinh
mặt (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
+ Tác
dụng hưng phấn trung khu thần kinh: Với liều nhỏ Angelicotoxin có tác dụng hưng
phấn trung khu vận động huyết quản, trung khu hô hấp và dây thần kinh phế vị
làm cho huyết áp tăng, mạch chậm, hơi thở kéo dài, chảy nước dăi và nôn mửa.
Với liều lớn dẫn tới co giặt và tê liệt toàn thân (Hiện Đại Thực Dụng Trung
Dược).
+ Tác
dụng kháng khuẩn: ức chế trực khuẩn ly, thương hàn, vi khuẩn G + (Hiện
Đại Thực Dụng Trung Dược).
Chứng minh bằng pháp khuếch tán thuốc trên môi trường có nuôi cấy vi khuẩn, đã chứng minh nước sắc và cao chiết bạch chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển của các loại phế cầu khuẩn, liên cầu tán huyết, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn subtitis, trực khuẩn lị. phẩy khuẩn tả, tràng cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn.
+
Kháng khuẩn lao: Đối với vi khuẩn lao ở người thuốc có tác dựng ức chế rõ rệt
(Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tạo mô hình co thắt khí phế quản chuột lang bằng histamin, thấy coumatin toàn phần chiết từ bạch chỉ có tác dụng bình suyễn.
+ Dùng
trong nhãn khoa : Loại Pommade làm từ Bạch chỉ có tác dụng tăng khả năng trị
liệu và tránh được loét giác mạc do bỏng ánh sáng gây ra (Trung Dược Học).
+ Tác
dụng chống viêm : Với mô hình gây viêm thực nghiệm bằng Kaolin trên chuột cống
trắng , Bạch chỉ với liều lượng 10g/kg có tác dụng chống viêm. Angelicotoxin,
một hoạt chất chiết từ Bạch chỉ, dùng với liều nhỏ, có tác dụng kích thích
trung khu vận mạch, tủy sống, gây tăng huyết áp, mạch chậm, hô hấp hưng phấn,
các phản xạ được tăng cường, ngoài ra việc kích thích tiết nước bọt. Dùng với
liều quá lớn gây co giật và cuối cùng dãn đến tê liệt (Tài Nguyên Cây Thuốc
Việt Nam).
Coumarin toàn phần được chiết từ cây bạch chỉ có tác dụng chống viêm khớp thực nghiệm do albumin hay formandehyd gây nên.
+Tác dụng kích thích trung khu thần kinh
Chất angelicotoxin có trong bạch chỉ, dùng liều nhỏ: kích thích trung khu vận mạch, hô hấp, thần kinh phế vị, tủy sống, gây huyết áp tăng cao, hô hấp sâu, có thể gây nôn mửa, chảy nước miếng, dùng liều cao có thể gây co giật, liệt toàn thân.
+Tác dụng hạ sốt giảm đau:
Tiêm pepton để gây sốt thực nghiệm trên thỏ, thí nghiệm dùng nước sắc bạch chỉ cho thấy tác dụng giảm sốt. Tiêm acid acetic 0,6% vào màng bụng để gây đau quặn, cho dùng bạch chỉ với liều 10g/kg thấy có tác dụng giảm đau.
+Tác dụng giảm co thắt cơ trơn, bình suyễn
+ Dùng trong tai mũi họng : Bột làm từ Bạch chỉ và Băng phiến, hít vào lỗ mũi, có tác dụng trị đầu đau, răng đau, thần kinh sinh ba đau (Trung Dược Học).
+Tác dụng đối với hệ tim mạch
Làm chậm nhịp tim thỏ thực nghiệm, điện tim đồ không thay đổi, làm hạ huyết áp ở mèo và ức chế sức co bóp của tim ếch thực nghiệm.
+ Độc
tính của Angelicotoxin giống như chất Xicutoxin nhưng không mạnh bằng ( Những
Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
“Ông Trương Sơn Lôi nói rằng : Bạch chỉ vị cay, tính ấm, thơm tho và mạnh mẽ, tính ráo, đặc biệt là nó sơ phong tán hàn. Nó có thể đi lên đầu, mắt. Tính nó cũng hay táo thấp, thăng dương, đi khắp mọi chỗ ở da thịt. Công hiệu của Bạch chỉ cũng gần giống như Xuyên khung, Cảo bản” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị này có vị cay, làm tán khí, vì vậy không nên dùng lâu dài. Bạch chỉ là thuốc khư phong ở Dương minh kinh, các chứng nhức đầu, xương hốc mắt đau nên dùng vị này. Cách chung, trị phong hàn thấp dẫn đến đau đầu, đau răng (Thực Dụng Trung Y Học).
+ Dùng lượng lớn có thể gây nên co cứng, có thể dẫn đến tê dại, dùng lượng ít có thể gây hưng phấn trung khu thần kinh (Thực Dụng Trung Y Học).
-Tính
vị, Quy kinh :
+ Vị cay,
hơi ngọt, tính ấm ( Trấn Nam Bản Thảo).
+ Vị cay,
mùi hôi, hơi có độc ( Dược Vật Đồ Khảo).
+ Vị cay,
tính ấm, vào kinh Bàng quang (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị cay,
tính ấm. Vào kinh Phế, Tỳ, Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vị cay,
tính ấm, vào kinh Phế, Vị và Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Vào kinh
Vị, Đại trường, Phế ( Trân Châu Nang).
+ Vào kinh
Phế, Tỳ, Vị ( Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh
Can, Vị, Đại trường ( Bản Thảo Kinh Giải).
-Liều dùng : 4-8g.
-Tác
dụng, Chủ trị :
+ Trị phụ nữ
bị lậu hạ, xích đới, huyết bế, âm đạo sưng, nóng lạnh, đầu phong, chảy nước
mắt, cơ nhục sưng ( Bản Kinh).
+ Trị phong
tà, nôn mửa, hông sườn dầy, đầu đau, khát lâu ngày, chóng mặt, mắt ngứa (Biệt
Lục).
+ Trị xoang
mũi, mũi chảy máu, răng đau, xương chân mày đau, bón, tiểu ra máu, huyền vận,
giải độc do rắn cắn, vết thương đâm chém ( Bản Thảo Cương Mục).
+ Trừ phong
tà, làm sáng mắt, cầm nước mắt, trừ mủ. Trị ngực bụng đau như kim đâm, phụ nữ
bị băng huyết, tiểu ra máu, lưng đau, bụng đau, ói nghịch (Dược Tính Luận).
+ Bổ thai
lậu, hoạt lạc, phá huyết xấu, bổ huyết mới, bài nùng, chỉ thống, sinh cơ.Trị
mắt đỏ, mắt có mộng, vú sưng đau, phát bối, loa lịch ( lao hạch), trường phong,
trĩ lậu, mụn nhọt, lở ngứa ( Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Trị da
ngứa do phong, Vị bị lạnh, bụng đau do lạnh, cơ thể đau do phong thấp (Trấn Nam
Bản Thảo).
+ Tán hàn,
giải biểu, khư phong, táo thấp, chỉ thống, giải độc. Trị đầu đau, răng đau,
vùng trước trán và lông mi đau, tỵ uyên (xoang mũi viêm), xích bạch đới, mụn
nhọt, ghẻ lở, ngứa ngoài da, rắn cắn, bỏng do nóng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Táo thấp,
trừ phong hàn, hoạt huyết, tiêu mủ, sinh da non, giảm đau. Trị phong thấp thuộc
kinh dương minh, ung nhọt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tác dụng khác
Giảm chảy máu,
chống khối u.
-Đơn thuốc
kinh nghiệm :
-
Trị phụ nữ bị lậu hạ, xích đới, huyết bế, âm đạo sưng, nóng lạnh, đầu phong,
chảy nước mắt, cơ nhục sưng.
-
Trị phong tà, nôn mửa, hông sườn dầy, đầu đau, khát lâu ngày, chóng mặt, mắt
ngứa.
-
Trị xoang mũi, mũi chảy máu, răng đau, xương chân mày đau, bón, tiểu ra máu,
huyền vận, giải độc do rắn cắn, vết thương đâm chém.
-
Trừ phong tà, làm sáng mắt, cầm nước mắt, trừ mủ. Trị ngực bụng đau như kim
đâm, phụ nữ bị băng huyết, tiểu ra máu, lưng đau, bụng đau, ói nghịch.
-
Bổ thai lậu, hoạt lạc, phá huyết xấu, bổ huyết mới, bài nùng, chỉ thống, sinh
cơ. Trị mắt đỏ, mắt có mộng, vú sưng đau, phát bối, loa lịch (lao hạch), trường
phong, trĩ lậu, mụn nhọt, lở ngứa.
-
Trị da ngứa do phong, Vị bị lạnh, bụng đau do lạnh, cơ thể đau do phong thấp.
-
Tán hàn, giải biểu, khư phong, táo thấp, chỉ thống, giải độc. Trị đầu đau, răng
đau, vùng trước trán và lông mi đau, tỵ uyên (xoang mũi viêm), xích bạch đới,
mụn nhọt, ghẻ lở, ngứa ngoài da, rắn cắn, bỏng do nóng.
-
Táo thấp, trừ phong hàn, hoạt huyết, tiêu mủ, sinh da non, giảm đau. Trị phong
thấp thuộc kinh dương minh, ung nhọt. Liều dùng: 4 - 8g.
Trị đau đầu do cảm mạo: (đau chủ yếu phần trán-ngoại cảm thể phong hàn):
-
Trị đầu phong: bạch chỉ, bạc hà, mang tiêu, thạch cao, uất kim. Tán bột, mỗi
lần dùng 1 ít, thổi vào mũi.
-
Trị đầu đau, mắt đau: bạch chỉ 16g, ô đầu (sống) 4g. Tán bột, mỗi lần dùng 1 ít
uống với nước trà.
-
Trị các chứng phong, chóng mặt, sản hậu sinh xong bị cảm do phong tà, tinh thần
không tỉnh: bạch chỉ (dùng nước nấu sôi 4 - 5 dạo), tán bột, trộn mật làm hoàn,
to bằng viên đạn. Mỗi lần uống 1 hoàn.
-
Trị chứng trường phong: bạch chỉ, tán bột, uống với nước cơm
-
Trị nửa đầu đau: bạch chỉ, tế tân, thạch cao, nhũ hương, một dược (bỏ dầu),
lượng bằng nhau. Tán nhuyễn, thổi vào mũi. Đau bên trái thổi bên phải và ngược
lại.
-
Trị mi mắt đau do phong, nhiệt hoặc đờm: bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 8g với
nước trà.
-
Trị mũi chảy nước trong: bạch chỉ, tán bột. Dùng hành giã nát, trộn thuốc làm
hoàn 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8 - 12g với nước trà nóng.
-
Trị thương hàn cảm cúm: bạch chỉ 40g, cam thảo(sống) 20g, gừng 3 lát, hành 3
củ, táo 1 trái, đậu xị 50 hột, nước 2 chén, sắc uống cho ra mồ hôi.
-
Trị trĩ ra máu: bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước cơm, ngoài ra sắc
thuốc lấy nước xông và rửa hậu môn.
-
Trị trĩ sưng lở loét: trước hết, lấy tạo giác đốt, hun khói, sau đó lấy mật vịt
trộn với bột bạch chỉ, bôi.
-
Trị chính giữa đầu đau (đã dùng nhiều thuốc nhưng không khỏi, dùng bài này có
hiệu quả): bạch chỉ (sao) 100g, xuyên khung (sao), cam thảo (sao), xuyên ô đầu
(nửa sống, nửa chín), mỗi vị 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 4g với nước sắc bạc hà,
tế tân.
-
Trị 2 đầu lông mày đau do phong, nhiệt, đờm: bạch chỉ, hoàng cầm (sao rượu),
lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước trà.
-
Trị răng đau do phong nhiệt: bạch chỉ 4g, chu sa 2g. Tán bột, trộn mật làm viên
to bằng hạt súng. Hàng ngày dùng xát vào chân răng.
-
Trị răng đau do phong nhiệt: bạch chỉ, ngô thù, lượng bằng nhau, hòa với nước,
ngậm.
-
Trị tiểu khó do khí (khí lâm): bạch chỉ, tẩm dấm, phơi khô, 80g, tán nhuyễn.
Mỗi lần uống 8g với nước sắc mộc thông và cam thảo.
-
Đau đầu do ngoại cảm
Thường gặp ở 3 thể với các triệu chứng
khác nhau:
Thể phong hàn: Biểu hiện đau khi bị cảm
do gió lạnh, đau cả lưng gáy, không khát nước, rêu lưỡi trắng mỏng.
Thể phong nhiệt: Biểu hiện đau đầu, cảm
thấy đầu căng tức, sốt, sợ gió, mắt đỏ, mặt hồng, khát nước, nước tiểu vàng
hoặc táo bón, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng vàng.
Thể phong thấp: Đau nặng đầu, tức ngực,
kém ăn, rêu lưỡi trắng dầy.
-
Đau đầu do nội thương
Thường gặp ở 3 thể
Thể can dương thịnh: Biểu hiện đau đầu
kèm chóng mặt, hoa mắt, hay cáu gắt, khó ngủ, ngủ hay giật mình, miệng khô, mặt
và rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng.
Thể đờm thịnh: Biểu hiện đau đầu kèm
buồn nôn, đôi khi nôn ra đờm, bụng trướng,tức ngực, rêu lưỡi dầy nhớt.
Thể huyết ứ: Biểu hiện đau đầu mạnh cố
định một chỗ, kéo dài không khỏi, có thể có tiền sử chấn
Bài
1: Bài thuốc trừ phong Thanh Hương:
Chuẩn bị: Bạch
chỉ, phòng phong mỗi vị 12g: khương hoạt, hoàng cầm, sài hồ, sài hồ 8g
mỗi vị; xuyên khung, cam thảo mỗi vị 4g.
Cách làm: Cho
tất cả các vị dược liệu vào sắc nước. Sử dụng 3 lần 1 ngày, mỗi ngày 1 thang.
Bài thuốc bạch
chỉ điều trị chứng đau đầu này rất phù hợp cho đối tượng phụ nữ có thai và sau
sinh bị cảm.
Bài 2: Bài thuốc Xuyên khung trà điều tán: bạch chỉ 4g, xuyên khung 8g, kinh giới 8g, bạc hà 16g, khương hoạt 4g, tế tân 2g, phòng phong 3g. Tán bột. Ngày uống 24g, uống với nước trà, sau bữa ăn 1-2 giờ.
Chuẩn bị: Bạch chỉ , khương hoạt mỗi vị 4g, bạc hà 16g,
xuyên khung, kinh giới mỗi vị 8g, phòng phong 3g, tế tân 2g.
Cách làm: Tán bột tất cả dược liệu, trộn đều.
Sử dụng: Ngày uống 24g. Pha như trà và dùng sau bữa ăn
khoảng 1-2 giờ, ngày 2 lần.
Nguyên nhân đau
đầu có thể do: viêm mũi, viêm xoang, dạ dày, đau lợi, đau răng, đau thần kinh
mặt
Bài
1: Bài thuốc Hoàn đô lương:
Bạch chỉ nghiền
thành bột mịn. Sau đó chế thành viên hoàn. Mỗi lần uống 6-12g. Sử dụng khoảng 1
tuần liên tục để mang lại công dụng trị đau đầu vùng trán tốt nhất.
Bài
2: Bài thuốc trị đau đầu do viêm mũi.
Chuẩn bị: Bạch
chỉ, thương nhĩ, tân di mỗi vị 12g, bạc hà 6g.
Cách làm: Tất
cả tán nhỏ thành bột.
Sử dụng: Pha
với nước như trà, mỗi lần uống 6-12g, chia ngày 2 lần.
Bài
3: Bài thuốc bạch chỉ trị đau đầu do
sưng lợi, đau răng.
Chuẩn bị: Bạch
chỉ, kinh giới, phòng phong mỗi vị 12g, thạch cao sống 20g.
Cách làm: Sắc
thuốc với nước.
sử dụng: Ngày
uống 1 thang, chia nhiều lần trong ngày.
Tác dụng của bạch chỉ trong điều trị đau đầu do nhiều nguyên nhân. Tùy từng trường hợp mà người bệnh vận các bài thuốc chữa đau đầu dưới sự hướng dẫn của các thầy thuốc.
+ Trị
đầu phong : Bạch chỉ, Bạc hà, Mang tiêu, Thạch cao, Uất kim. Tán bột, mỗi lần
dùng 1 ít, thổi vào mũi ( Bạch Chỉ Tán – Lan Thất Bí Tàng).
+ Trị
đầu đau, mắt đau : Bạch chỉ 16g, Ô đầu (sống) 4g. Tán bột, mỗi lần dùng 1 ít
uống với nước trà ( Bạch Chỉ Tán – Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị
các chứng phong, chóng mặt, sản hậu sinh xong bị cảm do phong tà, tinh thần
không tỉnh : Hương bạch chỉ ( dùng nước nấu sôi 4-5 dạo), tán bột, trộn mật làm
hoàn, to bằng viên đạn. Mỗi lần uống 1 hoàn ( Đô Lương Hoàn - Bách Nhất Tuyển
Phương).
+ Trị
chứng trường phong : Hương bạch chỉ, tán bột, uống với nước cơm ( Bách Nhất
Tuyển Phương).
+ Trị
nửa đầu đau : Bạch chỉ, Tế tân, Thạch cao, Nhũ hương, Một dược (bỏ dầu), lượng
bằng nhau. Tán nhuyễn, thổi vào mũi. Đau bên trái thổi bên phải và ngược lại
(Bạch Chỉ Tế Tân Suy Tỵ Tán - Chủng Phúc Đường Công Tuyển Lương
Phương).
+ Trị
mi mắt đau do phong, nhiệt hoặc đờm : Bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 8g với
nước trà ( Đan Khê Tâm Pháp).
+ Trị
mũi chảy nước trong : Bạch chỉ, tán bột. Dùng Hành giã nát, trộn thuốc làm hoàn
4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8-12g với nước trà nóng ( Bạch Chỉ Tán - Chứng Trị
Chuẩn Thằng).
+ Trị
xoang mũi : Bạch chỉ, Phòng phong, Tân di mỗi thứ 3,2g, Thương nhĩ tử 4,8g,
Xuyên khung 2g, Tế tân 2,8g, Cam thảo 1,2g, hòa với nước bôi chung quanh rốn.
Kiêng thịt bò (Dương Y Đại Toàn).
+ Trị
thương hàn cảm cúm : Bạch chỉ 40g, Cam thảo (sống) 20g, Gừng 3 lát, Hành 3 củ,
Táo 1 trái, Đậu xị 50 hột, nước 2 chén, sắc uống cho ra mồ hôi (Vệ Sinh Gia Bảo
Phương).
+ Trị
trẻ nhỏ bị sốt : Bạch chỉ, nấu lấy nước tắm cho ra mồ hôi ( Tử Mẫu Bí Lục Phương).
+ Trị
bạch đới, ruột có mủ máu, tiểu đục, bụng và rốn lạnh đau : Bạch chỉ 40g, Đơn
diệp hồng la quỳ căn 80g, Thược dược căn, Bạch phàn, mỗi thứ 20g. Tán bột. Trộn
với sáp làm hoàn to bằng hạt Ngô đồng. Uống mỗi lần 10-15 hoàn với nước cơm,
lúc đói (Bản Thảo Hối Nghĩa).
+ Trị
các loại phong ở đầu, mặt : Bạch chỉ, xắt lát, lấy nước Củ cải tẩm vào, phơi
khô, tán bột. Ngày uống 8g với nước sôi hoặc thổi vào mũi ( Trực Chỉ Phương).
+ Trị
trĩ ra máu : Bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước cơm, ngoài ra sắc
thuốc lấy nước xông và rửa hậu môn ( Trực Chỉ Phương).
+ Trị
trĩ sưng lở loét : trước hết, lấy Tạo giác đốt, hun khói, sau đó lấy mật
vịt trộn với bột Bạch chỉ, bôi (Y Phương Trích Yếu).
+ Trị
chính giữa đầu đau ( đã dùng nhiều thuốc nhưng không khỏi, dùng bài này có hiệu
quả) : Bạch chỉ (sao) 100g, Xuyên khung (sao), Cam thảo (sao), Xuyên ô đầu (
nửa sống nửa chín), mỗi vị 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 4g với nước sắc Bạc hà,
Tế tân (Đàm Dã Ông Thí Hiệu Phương).
+ Trị
2 đầu lông mày đau do phong, nhiệt, đờm : Bạch chỉ, Hoàng cầm (sao rượu), lượng
bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước trà ( Đan Khê Tâm pháp).
+ Trị
răng đau do phong nhiệt : Bạch chỉ 4g, Chu sa 2g. Tán bột, trộn mật làm viên to
bằng hạt súng. Hàng ngày dùng sát vào chân răng ( Y Lâm Tập Yếu Phương).
+ Trị
răng đau do phong nhiệt : Bạch chỉ, Ngô thù, lượng bằng nhau, hòa với nước,
ngậm
( Y Lâm Tập
Yếu Phương).
+ Trị
các bệnh ở mắt : Bạch chỉ, Hùng hoàng, tán nhuyễn, trộn mật làm viên to bằng
hạt nhãn, dùng Chu sa bọc ngoài. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 hạt ( Hoàn Tinh
Hoàn - Phổ Tế Phương).
+ Trị
tiểu khó do khí ( Khí lâm) : Bạch chỉ, tẩm giấm, phơi khô, 80g, tán nhuyễn. Mỗi
lần uống 8g với nước sắc Mộc thông và Cam thảo ( Phổ Tế Phương).
+ Trị
mắc ( hóc) xương : Bạch chỉ, Bán hạ, lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 8g
thì sẽ ói xương ra ( Phổ Tế Phương).
+ Trị
chân răng thối : Bạch chỉ 28g, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 4g, sau khi ăn ( Bách Nhất
Tuyển Phương).
+ Trị
chân răng thối : Bạch chỉ, Xuyên khung, 2 vị bằng nhau, tán bột, làm viên to
bằng hạt súng, ngậm hàng ngày ( Tế Sinh Phương).
+ Trị
mồ hôi trộm : Bạch chỉ 40g, Thần sa 20g. Tán bột, ngày uống 8g với rượu nóng
(Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị
ống chân đau : Bạch chỉ, Bạch giới tử, lượng bằng nhau, trộn nước Gừng, đắp
vào (Y Phương Trích Yếu Phương).
+ Trị
bạch đới : Bạch chỉ 160g, Thạch hôi 640g. Ngâm 3 đêm, bỏ vôi đi, lấy Bạch chỉ
xắt lát, sao, tán bột. Mỗi lần uống 8g với rượu, ngày 2 lần ( Y Học Tập Thành
Phương).
+ Trị
táo bón do phong độc : Bạch chỉ, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước cơm trộn với
ít Mật ong ( Thập Tiện Lương Phương).
+ Trị
cháy máu cam không cầm : lấy huyết chảy ra đó, trộn với bột Bạch chỉ, đắp vào
sơn căn ( Giản Tiện Phương).
+ Trị
thủng độc, nhiệt thống : Bạch chỉ, tán nhỏ, hòa dấm bôi ( Vệ Sinh Giản Dị
Phương).
+ Trị
tiêu ra máu do phong độc trong ruột : Bạch chỉ, tán bột. Mỗi lần uống 4g với
nước cơm, rất thần hiệu (Dư Cư Sĩ Tuyển Kỳ Phương).
+ Trị
đinh nhọt mới phát : Bạch chỉ 4g, Gừng sống 40g, rượu 1 chén, giã nát thuốc,
uống nóng cho ra mồ hôi ( Tụ Trân Phương).
+ Trị
ung nhọt trong ruột, đới hạ ra chất tanh nhớp luôn luôn : Bạch chỉ 40g, Hồng
quỳ 80g, Khô phàn, Bạch thược đều 20g. Tán bột, uống với nước cơm, lúc đói. Khi
hết mủ, dùng lá Sen để bổ. Khi ung nhọt đã bớt thì giảm liều dùng ( Dược Phẩm
Vậng Yếu).
+ Trị
ung nhọt sưng đỏ : Bạch chỉ, Đại hoàng, lượng bằng nhau, mỗi lần uống 8g với
nước cơm ( Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị
vết thương do dao chém, tên bắn : Bạch chỉ, nhai nát, đắp ( Tập Giản
Phương).
+ Giải
độc Từ thạch : Bạch chỉ, nghiền nát, uống 8g với nước giếng ( Sự Lâm Quảng Ký
Phương).
+ Trị
trẻ nhỏ bị đơn độc, độc còn lại chạy quanh, nhập vào bụng thì nguy : Bạch chỉ,
Hàn thủy thạch, tán bột, trộn nước hành, dán vào chỗ đau ( Toàn Ấu Tâm Giám Phương).
+ Trị
tiểu ra máu : Bạch chỉ, Đương quy, lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 8g (Kinh
Nghiệm Phương).
+ Trị
bệnh âm thử, xích thủng : Bạch chỉ, Đại hoàng, lượng bằng nhau, tán nhỏ. Mỗi
lần uống 6g với nước cơm ( Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị
ung nhọt sưng tấy, tuyến vú viêm, rắn cắn : Bạch chỉ, Bối mẫu, Liên kiều, Qua
lâu, Tử hoa địa đinh, mỗi thứ 12g, Bồ công anh, Kim ngân hoa mỗi thứ 16g, Cam
thảo 4g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị
rắn độc hoặc rết cắn : Bạch chỉ, Hùng hoàng, Nhũ hương, lượng bằng nhau, uống
với rượu ấm ( Bạch Chỉ Hộ Tâm Tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị
bạch đới : Bạch chỉ, Mai mực, lượng bằng nhau, tán nhuyễn. Mỗi lần uống 12g (Sổ
Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị
cảm, đầu đau (đau trước trán nhiều): Bạch chỉ 12g, Xuyên khung 4g, Phòng phong
12g, Khương hoạt 8g, Hoàng cầm 8g, Sài hồ 8g, Kinh giới 8g, Cam thảo 4g, sắc
nước uống (Khu Phong Thanh Thượng Ẩm - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị
lở sơn : Bạch chỉ mài với rượu hoặc dấm bôi ( Dược Liệu Việt Nam).
+ Trị
miệng hôi : Bạch chỉ 30g, Xuyên khung 30g. Tán bột, trộn mật làm viên, to bằng
hạt ngô, ngày ngậm 2-3 viên ( Dược Liệu Việt Nam).
-Tham
khảo :
+ ”Đương quy
làm sứ cho nó, ghét Tuyền phúc hoa (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ ”Bạch chỉ
ghét vị Tuyền phúc hoa - Mọi chứng lở ngứa dùng vị Bạch chỉ làm tá vì Bạch chỉ
có tác dụng khu phong, hút được mủ ướt ( Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ ” Bạch chỉ
và Giới bạch đều là thuốc thông khí, giảm đau, nhưng Giới bạch khí đục cho nên
vào trong, chữa ngực đau, tê; Bạch chỉ khí trong cho nên đi ra ngoài, trị đau
vùng xương lông mày - Bạch chỉ vị cay, tính ấm, nói chung dùng để táo hàn thấp
mà tán phong nhưng có khi dùng để trị chứng phong nhiệt , vì vậy, cho thêm vào
thuốc thanh tiết để làm nhiệm vụ ‘Phản tá’. Đó là dựa vào ý hỏa uất thì cho
phát, kết thì cho tán ( Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ ” Bạch chỉ
và Kinh giới đều là vị thuốc có vị cay, tính ấm, dùng để giải biểu. Không phải
chỉ có vào khí phận mà còn vào huyết phận, đều có tác dụng phát tán phong hàn,
xử lý huyết, có tác dụng tiêu thủng. Nhưng Bạch chỉ vị cay, thơm, tính ôn, táo,
chủ yếu vào kinh dương minh, tán hàn mạnh và có khả năng thông mũi, táo thấp,
hoạt huyết, trừ mủ. Kinh giới vị cay tính ấm nhưng không táo, chủ trị Can kinh,
khu phong mạnh, trị được chứng co giật, làm sáng mắt, lợi hầu (Trung Dược Lâm
Sàng Giám Dụng Chỉ Mê).
+ ” Xưa ở
Lâm Xuyên có người bị rắn độc cắn, hôn mê, cánh tay sưng to bằng đùi chân, một
lát thì khắp người sưng phù, mầu đen tím bầm. May gặp một đạo nhân dùng bột
Bạch chỉ hòa với nước mới múc lên mà đổ cho uống rồi thấy trong rốn máy động,
miệng ói ra nước vàng tanh hôi ghê gớm, ít lâu sau thì tự nhiên tiêu tan. Về
sau dùng bài Mạch Môn Đông Thang mà điều dưỡng nhưng cũng phải dùng bột Bạch
chỉ thì xát hoài. Lại một chuyện ở Kinh sơn tự, có tu sĩ bị rắn độc cắn vào
chân, sau đó vỡ ra, hôi thối, đã dùng nhiều thuốc mà không khỏi. May gặp một tu
sĩ đến chơi, dùng nước mới múc lên mà rửa luôn, sạch hết thịt thối, đến nỗi lòi
cả gân trắng ra. Sau đó rót nước nhiều vào rồi để cho khô, dùng bột Bạch chỉ
cùng với Đởm phàn và Xạ hương một ít, rắc thấm vào thì nước độc chảy ra, hàng
ngày cứ làm như thế, được một tháng thì khỏi” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
https://www.youtube.com/channel/UCjQr6SqbxtVNzVM4mD5O1HA
Nhận xét
Đăng nhận xét